
Thư gửi đồng bào thiểu số Thanh Hoá năm 1947 của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Vùng dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) tỉnh Thanh Hóa là vùng rừng núi rộng lớn, tiềm năng lao động và tài nguyên phong phú, từ trước đến nay luôn có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, quốc phòng, an ninh của cả tỉnh, cả nước; là vùng tiếp giáp với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trên chiều dài 213,6 km đường biên giới trải dọc theo địa phận của 16 xã vùng cao biên giới. Hiện nay, toàn vùng có 78 xã với 1.462 thôn/bản/khu phố; tổng diện tích tự nhiên toàn vùng khoảng 8.000 km2, chiếm khoảng 3/4 diện tích toàn tỉnh, là nơi sinh sống của 07 dân tộc chủ yếu: Kinh, Mường, Thái, Mông, Thổ, Dao và Khơ Mú, với tổng số dân trên 01 triệu người, trong đó dân tộc thiểu số trên 701.000 người (chiếm hơn 18% dân số toàn tỉnh và hơn 70% dân số toàn miền núi).
Từ xa xưa, các dân tộc đã có truyền thống đoàn kết, gắn bó bên nhau chế ngự thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm, xây dựng bản làng, quê hương, đất nước. Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hoá riêng, làm phong phú thêm nền văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam nói chung và của Thanh Hoá nói riêng.
Ban Dân tộc tỉnh Thanh Hóa (nay là Sở Dân tộc và Tôn giáo) tiền thân là Uỷ ban Hành chính đặc biệt miền Thượng du Thanh Hoá được thành lập theo Sắc lệnh số 41-SL ngày 04/4/1947 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quá trình xây dựng và phát triển, cơ quan công tác dân tộc tỉnh Thanh Hóa đã có nhiều lần đổi tên cho phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, đó là:
1. Giai đoạn 1947 – 1954: Uỷ ban Hành chính đặc biệt miền Thượng du và Đảng uỷ miền Tây

Sắc lệnh thành lập Uỷ ban hành chính đặc biệt miền thượng du tỉnh Thanh Hoá
Cách mạng tháng 8/1945 thành công, nhà nước cách mạng vừa mới ra đời, đang trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc: Giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Ở vùng miền núi Thanh Hoá quân Pháp từ Lào sang cấu kết với bọn Lang Đạo phản động để thiết lập “Hành lang Đông - Tây” nhằm chờ thời cơ đánh vào trung tâm tỉnh lỵ và làm hậu thuẫn cho quân Pháp tại chiến trường Tây Bắc, Thượng Lào; trong khi đó, lực lượng cách mạng và cơ sở cách mạng của ta còn mỏng, giác ngộ cách mạng của nhân dân các dân tộc còn hạn chế, uy thế của Thổ ty, Lang đạo còn lớn trong nhân dân.
Sau khi ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược (19/12/1946), trong dịp Bác Hồ vào thăm Thanh Hóa lần thứ nhất (20/02/1947), không lên thăm được đồng bào, Bác Hồ đã có thư gửi đồng bào Thượng du, động viên đồng bào các dân tộc " ... ra sức đoàn kết, chuẩn bị tham gia giết giặc cứu nước ...". Người thấu rõ tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của các châu miền núi tỉnh Thanh đang còn nhiều khó khăn phức tạp, lực lượng cách mạng còn mỏng, đồng bào còn nhiều hạn chế về ý thức giác ngộ chính trị, cách mạng và thiếu các điều kiện cơ bản của phong trào cách mạng cùng với những khó khăn phức tạp của một thời kỳ đất nước phải đương đầu với nhiều thứ thù trong, giặc ngoài. Bên cạnh đó, miền núi xứ Thanh còn có nhiều khó khăn đặc thù riêng, vai trò lang đạo (vùng dân tộc Mường) và thổ ty (vùng dân tộc Thái) còn lớn do chế độ thực dân phong kiến trước đó, đã ban phát nhiều đặc quyền, đặc lợi và duy trì chế độ cha truyền con nối. Trong tầm nhìn bao quát, xuất phát từ vị thế chiến lược quan trọng của đất nước, của tỉnh, của miền Tây Thanh Hóa và trước tình hình chung của cuộc kháng chiến kiến quốc, ngày 04/4/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 41-SL về việc thành lập một Ủy ban Hành chính đặc biệt miền Thượng du tỉnh Thanh Hóa (tiền thân của Ban Dân tộc tỉnh Thanh Hóa), để thực hiện 04 nhóm nhiệm vụ, đó là: (1) Giúp Uỷ ban Hành chính tỉnh giải quyết các công việc ở 6 Châu miền Thượng du Thanh Hoá; (2) Động viên dân chúng để chuẩn bị kháng chiến; (3) Đốc xuất việc tăng gia sản xuất; (4) Phát triển bình dân học vụ.
Dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban Hành chính đặc biệt miền Thượng du, các bộ phận theo dõi, chỉ đạo chiến đấu, sản xuất, dân sinh ..., như: Ban Dân quân Thượng du, Phân ty Bình dân học vụ, Phân ty Thông tin tuyên truyền, Công ty Thanh Thượng được thành lập và hoạt động.
Để tăng cường sức mạnh cho Uỷ ban Hành chính đặc biệt miền Thượng du, Tỉnh uỷ Thanh Hóa đã tăng cường cán bộ lên miền núi và quyết định thành lập Đảng uỷ miền Tây.
Những năm 1948, 1949, quân Pháp từ Lào tiến thẳng vào đánh chiếm các xã biên giới các huyện: Quan Hoá, Lang Chánh, Thường Xuân và tìm mọi cách mở rộng xuống phía Tây Nam nhằm làm chủ phía Tây biên giới Việt - Lào. Nhưng, dưới sự tham mưu lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng uỷ miền Tây và Uỷ ban Hành chính đặc biệt Thượng du, nhiều con em các dân tộc thiểu số đã tích cực tham gia bộ đội, dân quân du kích địa phương. Mục tiêu của thực dân Pháp là "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" nhưng đi đến đâu chúng cũng gặp "Vườn không nhà trống” và những trận đánh du kích bất ngờ bằng các loại vũ khí truyền thống của đồng bào các dân tộc như: Bẫy đá, súng kíp, chông tre ..., đã làm tiêu hao nhiều lực lượng của thực dân Pháp. Các điểm chốt của Pháp ở Nam Xuân, Nam Động, Phú Nghiêm (huyện Quan Hóa cũ) bị quân và dân ta áp đảo buộc chúng phải rút lui. Các đồn của Pháp ở Cổ Lũng (huyện Bá Thước cũ), Yên Khương (huyện Lang Chánh cũ), Bát Mọt (huyện Thường Xuân cũ) bị quân và dân ta tấn công, tiêu diệt gọn. Toàn bộ chiến lược hành lang Đông - Tây của Pháp ở vùng thượng du Thanh Hoá bị phá tan. Âm mưu lập khu "Thái tự trị”, “Mường tự trị" bị thất bại hoàn toàn.
Mặc dù chiến lược hành lang Đông - Tây bị phá vỡ, song thực dân Pháp vẫn nuôi mưu đồ bao vây và đánh phá vùng thượng du Thanh Hoá. Lợi dụng địa bàn rộng lớn, hiểm trở, cách biệt, chúng đã tung ra nhiều lực lượng biệt kích, thám báo, thổ phỉ để chống phá cách mạng. Các đại đội chủ lực Thượng du và đồng bào các dân tộc tiếp tục chiến đấu, mở rộng mạng lưới kiểm soát và vây bắt quân địch; qua 3 đợt tiễu phỉ, trừ gian trong các năm 1951- 1952 quân và dân Thượng du đã tiêu diệt và bắt sống 1.080 tên địch, tịch thu nhiều loại vũ khí. Hậu phương miền Tây được giữ vững và giúp nước bạn Lào bảo vệ vững chắc, an toàn khu căn cứ địa Sầm Nưa.
Cùng với quá trình chiến đấu, xây dựng lực lượng chiến đấu bảo vệ biên giới, bảo vệ Tổ quốc, Đảng uỷ miền Tây và Uỷ ban hành chính đặc biệt miền Thượng du còn tập trung xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, vận động đồng bào các dân tộc tham gia các tổ chức quần chúng, như: Hội Kháng chiến, Mặt trận Liên Việt,.... đẩy mạnh phong trào diệt giặc dốt, phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, xây dựng miền núi thành hậu phương vững chắc cho phong trào cách mạng cả tỉnh và chiến trường Điện Biên Phủ. Thông qua các phong trào đó có 50 - 60% cán bộ, đồng bào dân tộc được công nhận thoát nạn mù chữ; sản lượng lương thực trong các năm từ 1952 - 1954 luôn đạt hàng vạn tấn, là mức cao nhất trong những năm kháng chiến; riêng năm 1954, huyện Ngọc Lặc đã nộp thuế cho Nhà nước trên 4.000 tấn thóc.
Bước vào chiến dịch Điện Biên Phủ, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng uỷ miền Tây và Uỷ ban Hành chính đặc biệt miền Thượng du, đồng bào các dân tộc tiếp tục động viên hàng vạn con em lên đường nhập ngũ trực tiếp chiến đấu, đóng góp hàng triệu cây luồng, hàng nghìn mét khối gỗ làm lán trại, kho tàng, cầu cống; huy động hàng vạn người tham gia dân công hoả tuyến, vận chuyển hàng vạn tấn lương thực, thực phẩm, khí tài, bảo đảm đi đến đích an toàn, phục vụ cho chiến trường và tiếp tục chiến đấu với các toán biệt kích của địch, giữ vững đường dân công, tiếp vận của quân và dân ta cho chiến trường Điện Biên Phủ; góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ "Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". Ghi nhận những thành tích, chiến công đó, nhân dịp về thăm Thanh Hoá lần thứ hai (ngày 13/6/1957) Bác Hồ đã khen ngợi "Bây giờ tiếng Việt Nam đến đâu, tiếng Điện Biên Phủ đến đó. Tiếng Điện Biên Phủ đến đâu, đồng bào Thanh Hoá cũng có một phần vinh dự đến đó", trong đóng góp to lớn của quân và dân Thanh Hoá có phần to lớn của đồng bào các dân tộc miền núi, của Đảng uỷ miền Tây và Ủy ban Hành chính đặc biệt miền Thượng du tỉnh Thanh Hoá.
2. Giai đoạn 1955 – 1960: Uỷ ban Hành chính đặc biệt miền Thượng du và Ban Cán sự miền Tây
Sau năm 1954, quân và dân Thượng du không chỉ tự hào về những chiến thắng, những thành tựu đạt được mà còn khẳng định sự lớn mạnh của chính quyền cách mạng địa phương. Do đó, Đảng uỷ miền Tây được thay thế bằng Ban Cán sự miền Tây. Ban Cán sự miền Tây và Uỷ ban Hành chính đặc biệt miền Thượng du tiếp tục phát động đồng bào các dân tộc thi đua sản xuất, tích cực hàn gắn vết thương chiến tranh, thực hiện phong trào hợp tác hoá. Do đó, chỉ trong thời gian ngắn phong trào khai hoang, phục hóa, làm thuỷ lợi, thâm canh tăng vụ đã lan rộng khắp núi rừng miền Tây, sản lượng lương thực tăng nhanh, chăn nuôi, nghề rừng có bước phát triển toàn diện. Trong giai đoạn này các trường cấp I, cấp II bắt đầu được xây dựng và mở rộng đến nhiều xã, trường phổ thông cấp III được mở tại 3 huyện cũ: Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc; trung tâm huyện Ngọc Lặc cũ có Trường Thanh niên dân tộc, Trường Sư phạm 7 + 2, Trường trung cấp nông nghiệp và Trường Đảng đào tạo cán bộ cho khu vực miền núi; bệnh viện được xây dựng ở các huyện cũ: Ngọc Lặc, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Quan Hóa. Các trạm y tế xã được xây dựng để phục vụ yêu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân. Hệ thống thương nghiệp quốc doanh thành lập được 07 cửa hàng đặt ở 07 trung tâm huyện lỵ (cũ) và 05 tổ bán hàng ở các xã vùng cao biên giới ...; đồng thời, đấu tranh phá tan âm mưu xưng vua của tên Nhe Gia - dân tộc Mông (tại xã Pù Nhi năm 1957) và vụ bạo loạn do Vi Văn Sếnh - dân tộc Thái cầm đầu (tại xã Quang Chiểu năm 1958), giữ vững biên cương của Tổ quốc.
Thực hiện cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp kết hợp với hoàn thành cải cách dân chủ, bằng biện pháp linh hoạt, quyết tâm cao, đến cuối năm 1960, miền núi cơ bản hoàn thành, tạo ra động lực mới thúc đẩy kinh tế - xã hội miền núi phát triển.
3. Giai đoạn 1961 – 1968: Ban Chỉ đạo công tác miền Tây
Thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ Nhất và xây dựng hậu phương lớn cho đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, tháng 5 năm 1961, Thường vụ Tỉnh uỷ quyết định giải thể Ban Cán sự miền Tây và Uỷ ban Hành chính đặc biệt Thượng du, thành lập Ban Chỉ đạo công tác miền Tây để tham mưu cho tỉnh chỉ đạo các huyện miền núi thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, giữ vững biên cương của Tổ quốc.
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ và Uỷ ban Hành chính tỉnh Thanh Hóa, Ban Chỉ đạo công tác miền Tây đã nhanh chóng cùng đảng bộ và chính quyền các huyện miền núi (cũ) phát động "Phong trào 3 nhất". Trong một thời gian ngắn, phong trào khai hoang, làm thuỷ lợi, phong trào thâm canh, trồng rừng, khai thác lâm sản đã diễn ra sôi nổi khắp bản làng, từ vùng thấp đến vùng cao, sản xuất nông - lâm nghiệp, y tế, giáo dục tiếp tục đạt được những kết quả mới. Miền núi không những không phải nhận viện trợ lương thực từ miền xuôi lên mà còn làm nghĩa vụ cho Nhà nước hàng năm (từ năm 1961- 1965) hàng chục nghìn tấn và khai thác lâm sản bán cho Nhà nước hàng năm hàng nghìn m3 gỗ, hàng triệu cây luồng ..., núi rừng miền Tây đã bừng lên những điển hình tiên tiến mới trong công tác làm thuỷ lơi, khai hoang, thâm canh, trồng rừng... Các đoàn thể chính trị, như: Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, các đội dân quân được củng cố. Đây là lực lượng quan trọng giúp sức phá tan tổ chức phản động Lường Mạnh Huân và biệt kích của địch đầu năm 1963, tiếp tục giữ vững quốc phòng - an ninh vùng dân tộc miền núi .
4. Giai đoạn 1969 – 1991: Ban Dân tộc và Định canh định cư
Ngày 12/3/1968, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 38/CP về cuộc vận động định canh, định cư kết hợp với hợp tác hoá đối với đồng bào các dân tộc còn du canh, du cư. Nhằm đáp ứng tình hình mới, Ban chỉ đạo công tác miền Tây được đổi tên thành Ban Dân tộc và tỉnh thành lập thêm Ban Định canh định cư, do đồng chí Trưởng ban dân tộc làm trưởng cả 2 Ban để tham mưu cho tỉnh về công tác dân tộc và công tác định, canh định cư (ĐCĐC).
Thực hiện Nghị quyết 38/CP của Chính phủ, lớp lớp cán bộ dân tộc, ĐCĐC đã đến khắp các bản làng vùng cao, vùng sâu để tuyên truyền, vận động, hướng dẫn đồng bào các dân tộc thực hiện công tác ĐCĐC. Chỉ trong 3 năm (1969 - 1971) đồng bào đã làm được gần 800 km đường giao thông và hàng trăm công trình thuỷ lợi, trường học, trạm y tế; khai hoang trên 4.700 ha đất canh tác, trong đó có trên 2.000 ha ruộng nước. Đến năm 1980, toàn vùng trồng trên 18.000 ha luồng, quế ..., sản xuất, đời sống nhân dân tiếp tục được nâng lên, văn hoá - xã hội trong vùng có bước phát triển mới. Có thể khẳng định đây là giai đoạn sôi động nhất của hoạt động công tác dân tộc và ĐCĐC về thực hiện công cuộc phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi.
5. Giai đoạn từ năm 1992 đến tháng 11/1998: Ban Miền núi và Dân tộc
Thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, đặc biệt là thực hiện Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ chính trị, Quyết định 72/QĐ-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và Nghị quyết 21-NQ/TU của Tỉnh uỷ về phát triển kinh tế - xã hội miền núi, từ năm 1992, Ban Dân tộc và Ban định canh định cư được đổi tên thành Ban Miền núi và Dân tộc, với nhiệm vụ chủ yếu là: giúp UBND tỉnh cụ thể hoá các Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tổ chức chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ về sự nghiệp định canh định cư; quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn để phát triển kinh tế - xã hội cho vùng miền núi và dân tộc ...
Năm 1992 là năm đầu tiên thực hiện chức năng nhiệm vụ mới, cũng là năm Trung ương và tỉnh có nhiều chủ trương, chính sách quan trọng đối với vùng dân tộc và miền núi như: Chương trình ĐCĐC được tăng cường; bắt đầu thực hiện Chương trình 06 (thôi trồng cây thuốc phiện); Chương trình hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn ... Ban Miền núi và Dân tộc đã nhanh chóng đi vào xây dựng các dự án để triển khai thực hiện. Công tác dân tộc tiếp tục giành được những thành tựu mới.
Về công tác ĐCĐC, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng các công trình giao thông, thuỷ lợi, trường học, trạm y tế, khai hoang, trồng rừng, ổn định làng bản ..., Chương trình phá bỏ cây thuốc phiện, tuy rất khó khăn phức tạp, nhưng ngay từ năm đầu triển khai thực hiện (1992) nhờ giáo dục, thuyết phục và vận động tốt, nên gần 1.000 hộ dân tộc Mông ở xã Pù Nhi, xã Quang Chiểu đã phá nhổ 623,5 ha (gần 70% diện tích trồng), diện tích tái trồng các năm sau giảm dần và hầu như không còn. Dự án hỗ trợ dân tộc ĐBKK, đã di chuyển 39 hộ, trên 200 khẩu dân tộc Khơ Mú - là dân tộc khó khăn nhất trong các dân tộc của tỉnh, thuộc bản Đoàn Kết, xã Tén Tằn (nay là xã Mường Lát) ra nơi quy hoạch mới, có điều kiện ổn định canh, cư lâu dài.
6. Giai đoạn từ tháng 12/1998 đến tháng 12/2004: Ban Dân tộc và Miền núi
Thực hiện công tác cải cách hành chính và tăng cường hơn nữa công tác ĐCĐC và vùng kinh tế mới, từ tháng 4/1998, UBND tỉnh quyết định thành lập Chi cục ĐCĐC và Vùng kinh tế mới của tỉnh, đến tháng 7/1998, nhiệm vụ ĐCĐC của Ban Miền núi và Dân tộc được chuyển giao cho Chi cục ĐCĐC và Vùng kinh tế mới của tỉnh.
Tháng 12/1998, UBND tỉnh quyết định đổi tên Ban Miền núi và Dân tộc thành Ban Dân tộc và Miền núi với 2 phòng và 19 công chức.
7. Giai đoạn từ năm 2005 đến hết tháng 02/2025: Ban Dân tộc
Thực hiên Nghị định số 53 của Chính phủ, Thông tư số 246 của liên bộ: Uỷ ban Dân tộc và Bộ Nội vụ, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định 3920/QĐ-UBND về kiện toàn bộ máy công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh. Từ tháng 01/2005 đến nay, bộ phận ĐCĐC được sát nhập trở lại Ban Dân tộc và Miền núi, cơ quan được đổi tên thành Ban Dân tộc, có 30 công chức, với 4 phòng chuyên môn. Tiếp tục tham mưu cho Tỉnh uỷ và UBND tỉnh về chủ trương, chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc miền núi và thực hiện quản lý Nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh. Đến năm 2010, thực hiện Thông tư số 04 của liên bộ: Ủy ban Dân tộc và Nội vụ, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3572/QĐ-UBND ngày 28/10/2011 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về công tác dân tộc thuộc UBND tỉnh, cấp huyện; Ban Dân tộc có 30 công chức, với 4 phòng chuyên môn tham mưu cho UBND tỉnh thực hiện 15 nhóm nhiệm vụ thuộc lĩnh vực công tác dân tộc; đến năm 2015, theo quy định tại Thông tư số 07 của liên bộ: Ủy ban Dân tộc và Bộ Nội vụ, Ban Dân tộc có trách nhiệm tham mưu cho UBND tỉnh thực hiện 18 nhóm nhiệm vụ thuộc lĩnh vực công tác dân tộc.
Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, Ban Dân tộc tiếp tục tham mưu và phối hợp với các sở, ban, ngành tham mưu cho UBND tỉnh cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc, chỉ đạo thực hiện các chương trình, dự án, chính sách dân tộc, như: Chương trình ĐCĐC; Chương trình trung tâm cụm xã; Chương trình trợ giá, trợ cước; Chương trình 174 theo Nghị quyết số 37 của Bộ Chính trị; Chương trình hỗ trợ DTTS ĐBKK; Chương trình 135; Chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn theo các Quyết định: 134, 755 và 2085/QĐ-TTg; Chính sách vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ DTTS ĐBKK theo các Quyết định: 32 và 54/QĐ-TTg; Chính sách cấp một số loại báo, tạp chí cho vùng DTTS&MN, vùng ĐBKK theo các Quyết định: 975, 2472, 59, 45/QĐ-TTg; Chính sách hỗ trợ trực tiếp khẩu DTTS nghèo theo Quyết định 102/2009/QĐ-TTg; Chính sách đối với người có uy tín theo các Quyết định: 18 và 12/QĐ-TTg; Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng DTTS” theo Quyết định số 498/QĐ-TTg; Đề án “Hỗ trợ hoạt động Bình đẳng giới vùng DTTS” theo Quyết định 1898/QĐ-TTg; Đề án “Đẩy mạnh công tác phổ biến giáo dục pháp luật và tuyên truyền vận động đồng bào vùng DTTS&MN” theo Quyết định số 1163/QĐ-TTg; Đề án “Bồi dưỡng kiến thức dân tộc đối với cán bộ, công chức, viên chức” theo Quyết định 771/QĐ-TTg ...
Đồng thời với việc tham mưu cho UBND tỉnh thực hiện các chương trình, dự án, chính sách dân tộc của Trung ương, Ban Dân tộc đã tích cực tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh xây dựng các chính sách, chương trình, đề án, dự án về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng DTTS&MN, như: Chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền Tây theo Nghị quyết Đại hội XVII Đảng bộ tỉnh; Nghị quyết số 09-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi Thanh Hóa đến năm 2020 theo Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ tỉnh; Dự án ổn định sản xuất, đời sống và phát triển kinh tế - xã hội đồng bào Mông tỉnh Thanh Hóa đến năm 2010; Dự án bố trí sắp xếp, ổn định dân cư các xã biên giới đến năm 2010; Dự án ĐCĐC Bản Suối Tôn, xã Phú Sơn và Dự án ĐCĐC Bản Buốc Hiềng, xã Trung Thành, huyện Quan Hóa (cũ); Đề án Tuyên truyền thực hiện nếp sống văn hóa trong tang lễ vùng đồng bào dân tộc Mông tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020; Đề án ổn định đời sống và phát triển kinh tế - xã hội đồng bào Khơ Mú tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020; Đề án ổn định sản xuất, đời sống và phát triển kinh tế - xã hội các bản dân tộc Mông huyện Quan Sơn (cũ), giai đoạn 2016 - 2020; Đề án giảm thiểu tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020; Đề án “Xây dựng điểm điển hình giảm nghèo nhanh và bền vững trên địa bàn các huyện nghèo tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2016 - 2020”; Đề án phát triển cây trồng vật nuôi có lợi thế cho sản phẩm đặc sản trên địa bàn 11 huyện miền núi; Đề án Bảo tồn phát triển nghề, làng nghề truyền thống vùng DTTS tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2016 - 2020; Đề án chính sách hỗ trợ giảm nghèo cho các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao vùng miền núi không nằm trong danh sách xã ĐBKK (CT135), giai đoạn 2016 - 2020;... Tham mưu cho Chủ tịch UBND tỉnh xây dựng các kế hoạch triển khai thực hiện các dự án, đề án.
Bước vào giai đoạn 2021 – 2025, cùng với việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XIX Đảng bộ tỉnh (nhiệm kỳ 2020 – 2025), Nghị quyết số 58-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; cơ quan công tác Dân tộc của tỉnh đã tập trung tham mưu cho Tỉnh triển khai thực hiện các chính sách dân tộc do Trung ương ban hành, như: Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của BCH Trung ương Đảng khóa IX về Công tác dân tộc trong tình hình mới; Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội khóa XIV phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030; Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội khóa XIV phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 mà trọng tâm là Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025. Đây là quyết sách có ý nghĩa lịch sử trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc; lần đầu tiên lĩnh vực công tác dân tộc có một Chương trình mục tiêu quốc gia - Là Chương trình đặc thù dành riêng cho vùng đồng bào DTTS, được tích hợp bởi rất nhiều chính sách dân tộc; Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ về Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Cùng với việc tham mưu triển khai thực hiện các chính sách dân tộc của Trung ương, cơ quan công tác Dân tộc đã và đang tham mưu cho Tỉnh ban hành các chính sách đặc thù của tỉnh cho vùng DTTS&MN, trọng tâm như: Chương trình phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi Thanh Hóa giai đoạn 2021 – 2025 theo Quyết định số 624-QĐ/TU ngày 23/7/2021 của Tỉnh ủy; Đề án “Phát triển các mô hình cây trồng, vật nuôi, dược liệu, sản phẩm có lợi thế khu vực miền núi giai đoạn 2022 – 2025”; Đề án “Hỗ trợ các xã ĐBKK vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2016 – 2020, không thuộc diện ĐBKK giai đoạn 2021 – 2025, phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững” ...
8. Giai đoạn từ tháng 3/2025 đến nay: Sở Dân tộc và Tôn giáo
Thực hiện Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội khóa XV quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; Nghị quyết số 618/NQ-HĐND ngày 26/02/2025 của Hội đồng nhân dân tỉnh về sắp xếp tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Sở Dân tộc và Tôn giáo được thành lập trên cơ sở Ban Dân tộc tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ về tôn giáo từ Sở Nội vụ.
Sở Dân tộc và Tôn giáo chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/3/2025 và vẫn tiếp tục triển khai công tác dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách về tôn giáo, tín ngưỡng với 20 nhóm nhiệm vụ chủ yếu.
79 năm qua, cùng với việc triển khai đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để phát triển kinh tế, vǎn hóa – xã hội, nhằm không ngừng nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân; trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cũng như trong thời kỳ hòa bình, cơ quan công tác Dân tộc của tỉnh đã tham gia phát động và triển khai sâu rộng trong nhân dân các phong trào như: Phong trào “Ba sẵn sàng”, Phong trào “Ba đảm đang”, Phong trào “Tay búa tay súng”, Phong trào “Tay cày tay súng”, Phong trào thi đua “Hai tốt”, Phong trào “Diệt giặc dốt”, Phong trào “Tiếng hát át tiếng bom”, Phong trào: “Thóc không thiếu 1 cân, quân không thiếu 1 người”, cùng đồng bào và chiến sĩ cả nước thực hiện bằng được lời dạy của Bác Hồ “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”; cán bộ dân tộc thực hiện công tác dân tộc với phương châm “cán bộ đi làm vận động phải mồm nói, chân đi, tay làm”; “Tôi làm anh xem”, “Tôi anh cùng làm”, “Tôi anh cùng xem” và “Chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, chắc chắn”; với phong cách: “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân”; đồng thời, tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc xóa bỏ tập tục lạc hậu, phát triển kinh tế - xã hội và đạt được những kết quả quan trọng trong công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc ở Thanh Hóa.
Việc thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chính sách dân tộc và các chương trình, chính sách giảm nghèo khác đã tác động sâu sắc, toàn diện và tạo chuyển biến rõ rệt trên tất cả các mặt của đời sống xã hội vùng đồng bào DTTS, diện mạo nông thôn miền núi Thanh Hóa thay đổi và phát triển nhanh chóng, nhất là trong giai đoạn 2016 – 2025: Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư tăng cường và ngày càng hoàn thiện; kinh tế chuyển dịch đúng hướng, cơ cấu kinh tế khu vực miền núi đã từng bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá; các tiến bộ kỹ thuật được áp dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp nên năng suất, sản lượng tăng cao, nhiều mô hình giảm nghèo được duy trì, phát triển và hiệu quả; đời sống nhân dân ổn định, diện đói nghèo được thu hẹp; vấn đề việc làm cho lao động được quan tâm giải quyết; sự nghiệp giáo dục, văn hóa, chăm sóc sức khỏe nhân dân đạt nhiều thành tựu quan trọng; trình độ dân trí, trình độ cán bộ cơ sở ngày càng được nâng lên; hệ thống chính trị được củng cố, quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội được giữ vững, đoàn kết các dân tộc được phát huy; các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các DTTS được tôn trọng, bảo tồn, phục dựng và phát huy; các tập tục lạc hậu và tệ nạn xã hội đã được ngăn chặn và đẩy lùi ... Đến nay, vùng miền núi Thanh Hóa từ chỗ thiếu mặc, thiếu ăn triền miên, đã vươn lên cơ bản đáp ứng các yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và ngày càng được xây dựng đàng hoàng hơn, văn minh, tiến bộ hơn và đang chuyển mình trên đường phát triển. Núi rừng giờ đây đã “có điện thay sao”; nông thôn đã có ô tô thay ngựa, “có máy làm trâu cho người”, có internet và di động kết nối muôn phương ...
Tuy nhiên, hiện nay vùng DTTS&MN của tỉnh hiện vẫn là vùng khó khăn nhất tỉnh, điều kiện tự nhiên không thuận lợi, địa hình chia cắt; diện tích tự nhiên tuy rộng lớn nhưng diện tích đất để canh tác ít, manh mún, nhỏ lẻ, quỹ đất ở rất hạn hẹp; đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, vẫn còn tình trạng thiếu đất ở, nước sinh hoạt ... Những thách thức ấy đòi hỏi sự quan tâm chỉ đạo rất sâu sát quyết liệt, sự hỗ trợ rất lớn của Trung ương; sự quyết tâm cao của cấp ủy, chính quyền các địa phương; sự vào cuộc hiệu quả của các cấp, các ngành từ tỉnh đến cơ sở, trong đó có sự đóng góp quan trọng của cơ quan công tác dân tộc của tỉnh và sự nỗ lực vươn lên không ngừng của nhân dân các dân tộc trong tỉnh nói chung, nhân dân vùng DTTS&MN nói riêng để vượt qua trong giai đoạn phát triển và hội nhập, trong kỷ nguyên mới – “Kỷ nguyên Vươn mình” hiện nay.
Nhìn lại chặng đường truyền thống vẻ vang và rất đỗi tự hào của cơ quan công tác dân tộc tỉnh Thanh Hóa 79 năm qua, đã luôn nỗ lực phát huy tinh thần cách mạng cùng đồng bào các DTTS vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, đạt được nhiều thành tựu to lớn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển chung của tỉnh, của đất nước; đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận qua những phần thưởng cao quý: Huân chương Độc lập các hạng: Nhì, Ba; Huân chương Lao động các hạng: Nhất, Nhì, Ba; và nhiều phần thưởng cao quí khác cho tập thể và cá nhân; năm 2019, cơ quan vui mừng đón nhận danh hiệu “Cơ quan Kiểu mẫu”.
Trải qua 79 năm xây dựng và trưởng thành, mặc dù đã nhiều lần được đổi tên cho phù hợp với yêu cầu của từng thời kỳ cách mạng, nhưng nhiệm vụ chính trị của cơ quan công tác dân tộc và tôn giáo tỉnh Thanh Hóa tựu trung là tham mưu cho cấp ủy và chính quyền tỉnh Thanh Hóa quản lý nhà nước về công tác dân tộc, quản lý nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng; đề xuất và triển khai thực hiện các chính sách dân tộc, chính sách về tôn giáo, tín ngưỡng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc DTTS&MN, vùng đồng bào có đạo của tỉnh.
Cầm Bá Tường Theo Lịch sử Ban Dân tộc Thanh Hóa (1947 – 2017), các báo cáo tổng kết và các nguồn tư liệu khác